Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn từ đó vận dụng nguyên tắc này vào quá trình học tập của sinh viên.

0

 

I.                   Phạm trù lý luận.

Lý luận là: Phạm trù mang tính trừu tượng, vì vậy từ trước đến nay, đã có rất nhiều quan niệm, quan điểmkhác nhau về lý luận. Lý luận ra đời ngay từ thời cổ đại, khi triết học mới rađời, lúc đầu chỉ là những tri thức thuần túy trải qua quá trình nhận thức lâu dàicùng với sự xuất hiện của ngành khoa học thì tri thức lý luận hình thành vàngày càng mang tính khái quát trừu tượng hóa cao.


Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.

Kế thừa những yếu tố hợp lý đó và phát triển một cách sáng tạo. MácĂngghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng duy vật về lý luận: “Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người, là toàn bộ trihức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức cótác dụng tái hiện trong lôgíc của khái niệm cái lôgíc khách quan của sự vật”.

Có thể khẳng định: Lý luận là hệ thống những tri thức được hệ thống hóa, khái quát hóa từ những tài liệu của thực tiễn, kinh nghiệm lịch sử phản ánh mối liên hệ bản chất, những quy luật của thế giới khách quan cũng như sự phát triển của tư duy con người.

Lý luận là sản phẩm cao nhất của nhận thức, của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người. Để hiểu rõ về bản chất của lý luận chúng ta cần tìm hiểu khái niệm nhận thức và các cấp độ của quá trình nhậnthức.

 

Nhận thức: Là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan.

Nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu và hình thức khác nhau.

Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính:

Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Nó được thể hiện ở ba hình thức cơ bản làcảm giác, tri giác và biểu tượng.

Cảm giác là hình thức đầu tiên đơn giản nhất của nhận thức cảm tính, phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện tượng. Bản chất của cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

Tri giác là tổng hợp những thuôc tính riêng lẻ của sự vật trong mối quan hệ hữu cơ với nhay. Cũng như cảm giác, tri giác mang tính trực tiếp.

Biểu tượng là hính thức đi sâu vào bản chất của sự vật, biết được bản chất của chúng thông qua một tập hợp những thuộc tính. Đã bắ đầu mang tính khái quát và gián tiếp. Biểu tượng có vai trò là khâu trung gian giữa trực quan sinh động và tư duy trừu tượng.

Nhận thức lý tính là giai đoạn cao của quá trình nhận thức dựa trên cơ sở những tài liệu trực quan sinh động đem lại. Tư duy trừu tượng cũng phản ánh hiện thực, nhưng sự phản ánh gián tiếp và khái quát, và do vậy sâu sắc hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn với các hình thức cơ bản nha: Khái niệm, phán đoán và suy lý.

Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận – Những trình độ

khác nhau của nhận thức khoa học:

 

Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận không đồng nhất với nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận đều là sự tổng hợp của hai yếu tố cảm tính và lý tính.

Kinh nghiệm là những tri thực được chủ thể thu nhận trực tiếp trong quá trình hoạt động thực tiễn, là cơ sở để tổng kết, khái quát thành lý luận, là căn cứ để sửa đổi, phát triển hệ thống lý luận cũ.

Nhận thức lý luận phản ánh hiện thực trong bản chất của sự vật hiện tượng, trong những môi liên hệ mang tính quy luật. Nhiệm vụ của nhận thức lý luận là nhận thức ở trình độ cao hơn, chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của hoạt động thực tiễn. Chỉ có những tri thức lý luận mới làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động hơn, tránh được tính trạng mò mâm, tự phát.

Như vậy, về bản chất, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan, lý luận được hình thành không phải nằm ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ với thực tiễn.

Do quá trình hình thành và bản chất của nó, lý luận có hai chức năng cơ bản là chức năng phản ánh hiện thực khách quan và chúc năng phương pháp luận cho hoạt động thực tiễn. Lý luận phản ánh hiện thực khách quan bằng những quy luật chung nhất. Tri thức kinh nghiệm cũng như tri thức lý luận đều phản ánh hiện thực khách quan nhưng ở những phạm vi lĩnh vực và trình độ khác nhau. Lý luận phản ánh hiện thực khách quan để làm phương pháp luận nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan bằng hoạt động thực tiễn.

Tóm lại, lý luận là một công cụ tư tưởng sắc bén có vai trò rất to lớn đối với hoạt động thực tiễn cũng như đối với sự định hướng về nhận thức. Lý luận giúp cho con người thấy được những ưu điểm và hạn chế trong việc biến đổi những quá trình đối tượng hoá khách thể. Tự nhiên luôn cần đến những

II. Phạm trù thực tiễn.

Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học Mác– Lênin nói chung và của lý luận nhận thức Macxit nói riêng. Trong lịch sử triết học không phải mọi trào lưu đều đưa ra quan niệm đúng đắn về phạm trù này. Các nhà triết học duy vật trước Mác không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan điểm của họ mang tính chất trực quan. Các nhà triết học duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, tư tưởng của thực tiễn, họ hiểu họat động thực tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động của “ý niệm”, tư tưởng, tồn tại đâu đó ngoài con người, nói cách khác, họ gạt bỏ vai trò thực tiễn trong đời sống xã hội. Mác- Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khắc phục những hạn chế trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và đưa ra quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, Mác- Ăngghen đã thực hiện bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng.

Khái niệm thực tiễn trong triết học Mác- Lênin: “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội”.

Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Thực tiễn là hoạt động vật chất. Hoạt động vật chất là những hoạt động mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhất định nhằm cải tạo chúng theo nhu cầu của con người. Con người sử dụng các phương tiện để tác động vào đối tượng theo những hình thức và mức độ khác nhau tuỳ thuộc mục đích của con người. Kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn là những sản phẩm thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của cá nhân và cộng đồng.

Hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động sáng tạo, là hoạt động được đối tượng hoá, là quá trình chuyển hoá cái tinh thần thành cái vật chất. Bởi hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó nhận thức khách thể. Vì vậy thực tiễn là khâu trung gian nối liền ý thức con người vớithế giới bên ngoài. Như vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài thì con người nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình để cải tạo thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu mình thích nghi một cách chủ động tích cực với thế giới và làm chủ thế giới. Để thoả mãn nhu cầu của mình con người phải tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình và nhờ đó con người tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên. Như vậy, không có hoạt động thưc tiễn con người và xã hội không thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy có thể nói: Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Mỗi hoạt động của con người đều mang tính lịch sử cụ thể. Nó chỉ diễn ra trong một giai đoạn nhất định nào đó. Nó có quá trình hình thành phát triển và kết thúc hoặc chuyển hoá sang giai đoạn khác, không có hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn. Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tuợng, phương tiện cũng như mục đích hoạt động.

Hoạt động thực tiễn mặc dù phải thông qua từng cá nhân, từng nhóm người nhưng hoạt động thực tiễn của từng cá nhân, từng nhóm người lại không thể tách rời quan hệ xã hội. Xã hội quy định mục đích, đối tượng phương tiện và lực lượng trong hoạt động thực tiễn. Do đó hoạt động thực tiễn của con người mang tính xã hội sâu sắc, được thực hiện trong cộng đồng, vì cộng đồng và do cộng đồng.

Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu đã có nhận thức, đã có ý thức. Đó là ý thức về kết quả, ý thức về phương pháp, ý thức về đối tượng…, đặc biệt là ý thức về mục đích của quá trình hoạt động. Mục đích của hoạt động thực tiễn là nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội, nhằm cải biến tự nhiên và xã hội. Mỗi hoạt động đều có mục đích khác nhau để giải quyết nhu cầu cụ thể, không có hoạt động nào không có mục đích, mặc dù kết quả của hoạt động thực tiễn không phải lúc nào cũng diễn ra phù hợp với mục đích của con người.

Hoạt động sản xuất vật chất: là hoạt động trực tiếp của con người tác động vào giới tự nhiên, cải tạo tự nhiên bằng các công cụ vật chất nhằm tạo ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phái triển của con người và của xã hội. Vì vậy hoạt động sản xuất vật chất được xem là động lực phát triển của xã hội biến đổi con người theo trạng thái phát triển tích cực về mặt thể chất lẫn tinh thần. Bởi thông qua lao động con người mới phát huy hết tiềm năng của mình.Sự phát triển của xã hội càng cao thì cách thức con người sáng tạo ra công cụ lao đông ngày càng tinh vi, hiệu quả hơn, góp phần vào việc tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, đa dạng hơn và chất lượng, mẫu mã được nâng lên. Đồng thời sản xuất vật chất là cơ sở hình thành xã hội và các thiết chế xã hội khác nhau. Tất cả quan điểm về nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật tôn giáo… các quan hệ xã hội như gia đình, chủng tộc, dân tộc, quốc tế và các thiết chế xã hội như tòa án, nhà thờ… Đều được hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất vật chất. Bên cạnh đó sản xuất vật chất

còn là cơ sở cho tiến bộ xã hội.

III. Nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Giữa lý luận và thực tiễn giường như hai mặt tương đối độc lập với nhau nhưng lại có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó thực tiễn luôn luôn giữ vai trò quyết định .Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người và thế giới khách quan. Con người luôn tác động tích cực vào thế giới khách quan, tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan bằng thực tiễn. Trong quá trình đó sự phát triển nhận thức của con người và sự biến đổi thế giới khách quan là hai mặt thống nhất. Điều đó quy định sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động sinh tồn của cá nhân và cộng đồng.

Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, của lý luận; lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Thực tiễn là cơ sở của lý luận. Xét một cách trực tiếp, những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận. Qúa trình hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh những lý luận đã đựơc khái quát. Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết. Thông qua đó, lý luận được bổ sung, mở rộng.

Thực tiễn là động lực của lý luận. Hoạt động của con người không chỉ là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội. Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động. Thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng kích thích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận. Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn. Nhờ vậy hoạt động con người không bị hạn chế trong không gian và thời gian. Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoa học mới ra đời – khoa học lý luận. Thực tiễn là mục đích của lý luận. Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm thoả mãn nhu cầu hiểu biết của con người, nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt động của con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội. Tự thân lý luận không thể tạo nên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi trong tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người, đó thực chất là mục đích của lý luận. Tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người. Thực tiễn là yêu cầu, là tiêu chuẩn chân lý của lý luận

Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận đối với hoạt động thực tiễn của con người. Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm. Chính vì thế mà C.Mác nói: “Vấn đề tìm hiểu tư duy của con người có thể đạt đến chân lý khách quan không hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”. Thông qua thực tiễn những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại; những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh bổ sung hoặc nhận thức lại giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn.

Tuy thực tiễn là tiêu chẩn chân lý của lý luận nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, vận động, phát triển và chuyển hoá. Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn. Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộ phận nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn. Do đó, chỉ những lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý. Tuy xét đến cùng thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý duy nhất của lý luận, nhưng vì thực tiễn luôn vận động và phát triển, đồng thời thực tiễn cũng rất phong phú và đa dạng, do đó ngoài tiêu chuẩn thực tiễn còn có thể có những tiêu chuẩn khác như tiêu chuẩn lôgíc, tiêu chuẩn giá trị…Song các tiêu chuẩn đó vẫn phải trên nền tảng của thực tiễn. Chính vì vậy chúng ta có thể nói kháiquát thực tiễn là tiêu chuẩn của lý luận.

Lý luận hình thành và phát triển được xuất phát từ thực tế và đáp ứng nhu cầu thực tiễn:

Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn đến sự hình thành lý luận. Đó không chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lịch sử nhận thức mà còn từ nhu cầu của thực tiễn. Thực tiễn phong phú đa dạng, luôn vận động và biến đổi, nhưng để hình thành lý luận, trước hết lý luận phải đáp ứng thực tiễn. Con người nhận thúc hiện thực khách quan để giải quyết những vấn đề con người quan tâm. Năng lực của con người ngày càng được nâng cao chính nhờ khả năng thông qua hoạt động phản ánh, khái quát thành tri thức lý luận.

Trong sự vô cùng, vô tận của hiện thực khách quan, con người không hề hoáng ngợp mà bằng mọi biện pháp để nhận thức. Loài người có khả năng trở thành chủ thể nhận thức để phản ánh sự vô tận của hiện thực khách quan, nhưng để đáp ứng hoạt động thực tiễn của con người. Đó là những lý luận mang tính phương pháp cho hoạt động cải tạo hiện thực khách quan. Mọi hoạt động của con người đều nhằm đạt hiệu quả cao. Lý luận, trước hết phải đáp ứng mục đích đó. Quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên đòi hỏi con người phải có lý luận sâu sắc về chúng. Con người hình thành lý luận chủ yếu để làm phương pháp cho hoạt động sáng tạo tri thức, phát minh sáng chế những tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt nhằm nâng cao năng lực sáng tạocủa con người. Do đó hệ thống lý luận nào góp phần giải quyết đúng đắn, phù hợp mục đích của con người thì được con người quan tâm khái quát. Vì lẽ đó lý luận phải đáp ứng nhu cầu phát triển của thực tiễn.

IV.            Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và nhận thức.

Trong Triết học Macxit và trong chủ nghĩa Mac-Lênin, sự thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn như một thuộc tính vốn có, một đòi hỏi nội tại. Nguyên tắc này có ý nghĩa to lớn rong việc nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.

Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn thống nhất với nhau dưới nhiều hình thức và trình độ biểu hiện khác nhau. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh (khái quát) những vấn đề của đời sống sinh động. Nhưng thước đo tính cao thấp của lý luận với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý luận đó phải hướng hẳn về đời sống hiện thực, để giải quyết những vấn đề do chính sự phát triển của thực tiễn đặt ra, và như vậy, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển, bởi vì ở bên ngoài sự thống nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý luận không thể biến đổi được hiện thực, nói cách khác, hoạt động lý luận không có mục đích tự thân mà vì phục vụ thục tiễn, để cải tạo thực tiễn.

Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệt được thực tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý (lý luận). Như trên đã nói, lý luận đích thực bao giờ cũng bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định. Thực tiễn quy định lý luận thể hiện ở nhu cầu, nội dung, phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận. Thực tiễn biến đổi thì lý luận cũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động trở lại thực tiễn bằng cách soi đường, chỉ đạo, dẫn đắt thực tiễn. Trên cơ sở nhận thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn phải chống bệnh kinh nghiệm. Bệnh kinh nghiệm là khuynh hướng tư tưởng tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường lý luận khoa học, khuếch đại vai trò của thực tiễn để hạ thấp vai trò lý luận và áp dụng máy móc những kinh nghiệm trước vào thực tiễn hiện nay mặc dù nó đã thay đỏi, vi phạm quan điểm lịch sử cụ thế. Đây chính là tư duy siêu hình, không thấy được sự vận động của lịch sử xã hội dẫn đến xem thường lớp trẻ - những người được xem là ít kinh nghiệm thực tiễn làm mất đi tính sáng tạo, chủ động của con người trong hoạt động thực tiễn.Chúng ta coi trọng kinh nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹ vốn kinh nghiệm quý báu đó.Song chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân, coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý luận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận thì sẽ rơi vào lối suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, phiến diện thiếu tính lô gic, tính hệ thống, do đó, trong hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính đồng bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh vực. Để khắc phục bệnh này thì không được rời xa thực tiễn, phải bám sát thực tiễn, phải tăng cường học tập, nâng cao trình độ lý luận, bổ sung lý luận thường xuyên để đáp ứng được với sự thay đổi của thực tiễn.

Mặt khác, thái độ thực sự coi trọng lý luận đòi hỏi phải ngăn ngừa bệnh giáo điều. Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu vai trò lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể, áp dụng kinh nghiệm một cách rập khuôn máy móc. Nguyên nhân của bệnh giáo điều là do hiểu lý luận một cách nông cạn, chưa nắm được bản chất của lý luận, vận dụng lý luận chưa được kiểm nghiệm qua thực tiễn nên chỉ là những lý luận thuần túy. Và mọt sách, sính lý luận đã thành đường mòn trong những cán bộ do vận dụng sai lý luận vào thực tiễn, chỉ thấy cái chung mà không thấy cái riêng, cái cụ thể. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũ và Đông Âu. Để khắc phục bệnh giáo điều, cần quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Lý luận luôn gắn với thực tiễn và phải vận dụng lý luận một cách sáng tạo vào thực tiễn, kiểm tra trong thực tiễn và không ngừng phát triểntrong thực tiễn.

V.               Vận dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào quá trình học tập của sinh viên hiện nay.

Là một sinh viên đang ngồi trong nghế nhà trường khi học nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn sẽ cung cấp choc hung ta một bài học to lớn về nhận thức. Đó là bài học về quán triệt quan điểm thực tiễn– nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác– Lênin, quan điểm cơ bản và hàng đầu của triết học Mác xít. Trong việc rèn luyện không ngừng tự đổi mới bản thân với tính chất mới mẻ và khó khăn của nó đòi hỏi phải có lý luận khoa học soi sáng. Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và điều kiện cơ bản làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thức tiễn. Từ đó hiểu thêm lý luận không bỗng nhiên mà có và cũng không thể chờ chuẩn bị xong xuôi về lý luận rồi mới tiến hành thay đổi. Hiểu hơn về thực tiễn lại là cơ sở để nhận thức, của lý luận. Phải qua thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm, mới có cơ sở đề khái quát thành lý luận.

ð Vì vậy, khi còn ngồi trong nghế nhà trường mỗi sinh viên phải nhận thức được tầm quan trọng của việc vừa học vừa làm, vừa làm vừa tổng kết lý luận, đúc rút thành kế hoạch không ngừng phấn đấu để không không ngừng đổi mới bản thân. Từ đó phải mò mẫm trong thực tiễn, phải trải qua thể nghiệm, phải làm rồi mới biết, thậm chí có nhiều điều phải chờ thực tiễn. Ví dụ như vấn đề các môn học về sinh học, hóa học …. Chúng ta phải vận dụng vào cuộc sống để chăm sóc cây học được quy trình phát triển cây từ đó vận dụng nâng cao sản phẩm nông nghiệp.

VVT.


Đăng nhận xét

0 Nhận xét

Đăng nhận xét (0)
3/related/default