Quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật Biện chứng về mối quan hệ biện chứng giữa Vật chất và Y thức? Từ đó nêu nên sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước/ liên hệ vấn đề này trong học tập và rèn luyện bản thân sinh viên hiện nay.

0

 Những năm qua nước ta đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay tạo nên thời kỳ phát triển cho công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển nhanh với trình độ ngay càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. Vấn đề đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối liên hệ giàng buộc chặt chẽ với nhau không thể tách rời nhau. Chính vì vậy tìm hiểu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng nó vào mối quan hệ kinh tế và chính trị của đất nước, giúp cho công cuộc xây dựng nền kinh tế nước ta ngày càng giầu mạnh.

Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Khái niệm về Vật chất: Vật chất là phạm trù rất phức tạp và có rất nhiều quan niệm khác nhau về vật chất đứng trên các giác độ khác nhau. Nhưng theo Lênin định nghĩa: “Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”

Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất, không thể làm theo cách thông thường là quy một khái niệm cần định nghĩa sang một khái niệm khác rộng hơn vì khái niệm vật chất là một khái niệm rộng nhất. Để định nghĩa vật chất, Lênin đó đối lập vật chất với ý thức, hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, vất chất tồn tại độc lập đối với cảm giác, với ý thức, còn cảm giác, ý thức phụ thuộc vào vật chất, phản ánh vật chất.

Khi định nghĩa:” Vật chất là một phạm trù triết học”, Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là một khái niệm rộng nhất, rộng vô hạn, muốn phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học, là kết quả của sự khái quát và trừu tượng, với những dạng vật chất cụ thể, với những “hạt nhỏ” cảm tính. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được. Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ, đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó.


Vật chất và Ý thức.

Khái niệm về ý thức: Cũng như vật chất có rất nhiều các quan niệm về ý thức theo các trường phái khác nhau. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật ở đây khẳng định rằng ý thức là đặc tính là sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con người thông qua lao động và ngôn ngữ. Mác nhấn mạnh rằng tinh thần, ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc của con người và được cải biến ở trong đó. Ý thức là một hiện tượng của xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm ý thức, tri thức, tìm cảm, ý chí trong đó tri thức là quan trong nhất là phương thức tồn tại của ý thức.

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Lênin đã chỉ ra rằng:  Phải trả  lời câu hỏi cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào. Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là tương đối nếu như chúng là những nguyên tố, những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người.


Mối quan hệ của Vật chất và Ý thức.

tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở  tính độc lập tương đối, tính năng động của ý thức. Mặt khác, đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá. Khẳng định tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có ý nghĩa là khẳng định rằng cả hai nhân tố có vai trò như nhau trong đời sống và hoạt động của con người. Trái lại, triết học Mác-Lênin khẳng định rằng, trong hoạt động của con người, những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua lại, song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai của nhân tố ý thức.

Trong hoạt động của con người, những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và qui định hoạt động của con người vì nhân tố vật chất qui định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó qui định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sửa chữa bổ sung, cụ thể hoá mục đích, chủ trương, biện pháp đó. Hoạt động nhận thức của con người bao giờ cũng hướng đến mục tiêu để biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu cuộc sống, hơn nữa, cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có.

Khẳng định vai trò cơ sở, quyết định trực tiếp của nhân tố vật chất, triết học Mác- Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần, của tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác dụng trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa, trong hoạt động của mình con người không thể để cho thế giới khách quan, quy luật khách quan chi phối mà chủ động hướng nó đi theo con đường có lợi của mình. Ý thức con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất, cũng không thể thay đổi qui luật vận động của nó. D đó, trong quá trình hoạt động của mình, con người phải tuân theo qui luật khách quan và chỉ có thể đề ra những mục đích, chủ trương trong phạm vi hoàn cảnh vật chất cho phép.

Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế ở nước ta hiện nay

Về mối quan hệ kinh tế và chính trị: Giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau. Nhân tố vật chất giữ vai trò là cơ sở, quyết định, còn nhân tố ý thức là có tác dụng trở lại đối với nhân tố vật chất. Trong nhiều trường hợp, nhân tố ý thức có tác dụng quyết định đến sự thành bại của hoạt động con người. Điều này thể hiện rõ trong tác động của đường lối, các chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế của Đảng. Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi tuỳ theo từng hình thái kinh tế xã hội. Con người trải qua năm hình thái xã hội: thời kỳ nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Trình độ tổ chức quản lí và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố qui định trình độ hiện đại và mức sống của xã hội. Sản xuất vật chất còn là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội và đời sống tinh thần của xã hội. Hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng, mọi quan hệ của đời sống xã hội bao gồm quan hệ chính trị. Nhà nước pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… đều hình thành và biến đổi phát triển gắn liền với cơ sở kinh tế và sản xuất nhất định.

Trong xã hội ấy, theo Mác quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (quan hệ kinh tế) là quan hệ cơ bản nhất quyết định tất cả các quan hệ khác. Một khi sản xuất phát triển, cách thức sản của con người thay đổi, năng suất lao động tăng, mức sống được nâng cao thì các mối quan hệ và mọi mặt của đời sống xã hội cũng thay đổi theo. Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất tham gia vào quá trình phát triển và hoàn thiện các chức năng cảu con người, thoả mãn các nhu cầu của con người và xã hội.

Sản xuất vật chất, môi trường, tự nhiên, điều kiện xó hội…đòi hỏi thế lực, trí tuệ và nhân cách của con người phải phát triển thích ứng với nó. Yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất là cho khoa học kĩ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội, là nhân tố quan trọng hàng đầu của Lực lượng sản xuất. Sự phong phú và đa dạng của những quan hệ vật chất, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất vật chất là cơ sở làm nảy sinh sự phong phú và đa dạng trong sự phát triển thể chất, năng lực và tinh thần của con người.

Nói cho cựng thỡ trong hoạt động của con người, những nhu cầu về vật chất (kinh tế) bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định mục đích hoạt động bởi vì con người phải trước hết ăn mặc, ở, rồi mới nghĩ đến vui chơi, giải trí. Hoạt động nhận thức của con người trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống. Hơn nữa, cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có.

Nền kinh tế của mỗi nước là cơ sở để nước đó thực hiện những chủ trương, biện pháp trong việc quản lí, đề ra những chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược phát triển quân đội để đảm bảo trật tự an ninh và chủ quyền quốc gia. Căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế, các tư tưởng và chính sách đổi mới phát triển kinh tế được đưa ra phù hợp và hiệu quả nhằm đem lại lợi ích  kinh tế cao cho xã hội, cũng đồng thời cho nhân dân. Tác dụng ngược trở lại, thể chế chính trị (ý thức) của một nước cũng rất quan trọng trong việc xây dựng đất nước. Chính trị ổn định là điều kiện tốt, tạo không khí yên ấm, thoải mái và tự do để mọi người, nhà nhà, các công ty, các tổ chức, hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội cống hiến và phát huy khả năng của mình để đem lại lợi ích cho bản thân mình và lợi cho xã hội.

Nguyên lý triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét tình hình các sự vật (Ở đây là nền kinh tế ) từ thực tế khách quan, tránh chủ chủ nghĩa chủ quan, duy ý trí, đồng thời phát huy vai trò năng động sáng tạo của ý thức, phát huy nỗ lực chủ quan  của con người (như hoạt động kinh tế của nước ta, trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng đã chú trọng đến việc đề cao yếu tố con người, làm cho ý thức thay đổi mới thâm nhập vào các cơ sở kinh tế, vào đông đảo quần chúng).

2. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay

Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, nền kinh tế miền Bắc còn nhiều nhược điểm. Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu kinh tế nhiều mặt mất cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất chưa bảo đảm nhu cầu đời sống, sản xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu. Mặt khác nền kinh tế miền Bắc còn bị chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ tàn phá nặng nề. Ở miền Nam, sau 20 năm chiến tranh, nền kinh tế bị đảo lộn và suy sụp, nông nghiệp nhiều vùng hoang hoá, lạm phát trầm trọng…

Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế hoạch năm 1976-1980 quá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất vượt quá khả năng của nền kinh tế, như năm 1975, phấn đấu đạt 20 triệu tấn lương thực, 1 triệu tấn cá biển, 1 triệu ha khai hoang, 1 triệu 200 ha rừng mới trồng… 10 triệu tấn than sạch, 2 triệu tấn xi măng… Đặc biệt là đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí và đặt nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam.

Những chủ trương sai lầm đó cùng với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã tác động xấu tới nền kinh tế, ảnh hưởng không tốt đến đời sống của nhân dân… Đến hết năm 1980, nhiều chỉ tiêu kinh tế đề ra chỉ đạt khoảng 50%-60% mức đề ra, nền kinh tế tăng trưởng rất chậm chạp: tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1,5%, công nghiệp tăng 2,6%, nông nghiệp giảm 0,15%.

Đại hội Đảng lần thứ V cũng chưa tìm ra được đầy đủ những nguyên nhân đích thực của sự trì trệ trong nền kinh tế của nước ta và cũng chưa đề ra được các chủ trương chính sách và toàn diện về đổi mới, nhất là kinh tế. Trong năm 1981-1985 chúng ta chưa kiên quyết khắc phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lí kinh tế, lại phạm những sai lầm mới trong lĩnh vực phân phối lưu thông. Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế- xã hội, ổn định đời sống nhân dân.

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã nhận định: “Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã sai phạm sai lầm chủ quan duy ý trí, vi phạm qui luật khách quan: Nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương”.

Tất nhiên, ngoài những khuyết điểm chủ yếu nêu trên, cũn cú những nguyên nhân khách quan như hậu quả của nhiều năm chiến tranh, bối cảnh quốc tế…song chủ yếu là do chúng ta phạm sai lầm chủ quan, những sai lầm đó cùng với trì trệ trong công tác tổ chức cán bộ đã kìm hãm lực lượng sản xuất và triệt tiêu nhiều động lực phát triển.

Nhắc lại tình hình trên để thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức  đối với vật chất (là nền kinh tế) và thấy tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới. Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải.

Vì vậy trước tình hình ngày càng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội ở nước ta Đảng và nhà nước ta đã đi sâu nghiên cứu, phân tích tình hình lấy ý kiến rộng rãi của cơ sở, của nhân dân, và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế. Đại hội lần thứ VI của Đảng đã rút ra bốn kinh nghiệm lớn, trong đó có kinh nghiệm: phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hanh động theo qui luật khách quan. Đảng đã đề ra đường lối, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Tại Đại hội VI Đảng ta đã tự phê bình một cách nghiêm khắc, đã phân tích đúng nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội, đề ra các định hướng mới đặc biệt là đổi mới kinh tế, đã thực hiện mục tiêu của ba chương trình kinh tế: lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất, hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tiểu tư sản, sản xuất hàng hoá và kinh tế tư bản tư nhân, đổi mới cơ chế quản lí kinh tế, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá- tiền tệ. Trong quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, những diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế và xã hội của nước ta, nhưng Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nỗ lực khắc phục khó khăn, kiên trì tìm tòi, khai phá con đường đổi mới: công cuộc đổi mới. Và đến Đại hội Đại Biểu toàn Quốc lần thứ VII ta đã đánh giá tình hình kinh tế chính trị xã hội Việt Nam sau bốn năm thực hiện đường lối đổi mới: công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng.

Tình hình chính trị của đất nước ổn định, nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, nguồn lực sản xuất của xã hội được huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát được kìm chế bớt, đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện. So với trước đây thì mức độ khủng hoảng đã giảm bớt. Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy…

Qua những dẫn chứng trên, ta thấy rõ tác động qua lại giữa ý thức và vật chất, giữa kinh tế và chính trị. Nhờ có đường lối đổi mới, sản xuất phát triển, đời sống của nhân dân nói chung được cải thiện, mức độ khủng hoảng đã giảm bớt, do đó đã góp phần ổn định tình hình chính trị của đất nước, góp phần vào việc phát huy dân chủ trong xã hội. Không chủ quan với những thành tựu đã đạt được, Đại hội VII đã chỉ ra những tồn tại lớn cần giải quyết, đặc biệt về mặt kinh tế đó là: lạm phát còn ở mức cao, nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài, lao động thiếu việc làm tăng lờn…

Đồng thời cũng tự phê bình về việc chậm xác định rõ yêu cầu và nội dung đổi mới, còn nhiều lúng túng và sơ hở trong điều hành, quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường… Đặc biệt, Đại hội cũng xác định: “Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị tập trung sức đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân và làm việc, các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính trị”.

Như vậy, rõ ràng Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng vận dụng đúng đắn phương pháp luận duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới, tiến hành đổi mới kinh tế trước để tạo điều kiện đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đại hội VII, sau khi đã phân tích sâu sắc đặc điểm tình hình quốc tế và trong nước đã đề ra mục tiêu tổng quát vào các mục tiêu cụ thể, những phương châm chỉ đạo trong 5 năm 1991- 1995 đặc biệt đáng chú ý là phương châm kết hợp động lực kinh tế với động lực chính trị tinh thần, phương châm tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ đưa công tác đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới các lĩnh vực khác.

Nói về Đảng trong công cuộc đổi mới, báo cáo chính trị trước Đại hội đã nhận xét: ” Nét nổi bật là trong Đảng đó cú sự đổi mới tư duy về kinh tế với tinh thần độc lập sáng tạo, Đảng đã cụ thể hoá và phát triển nghị quyết Đại hội VII, bước đầu hình thành hệ thống các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới ở nước ta”.

Sau Đại hội lần thứ VII, Ban chấp hành TW Đảng (khoá VII) đã đề ra các nghị quyết hội nghị Trung ương 2, 3, 4, và 5 để cụ thể hoá và phát triển đường lối Đại hội VII, giải quyết một loạt vấn đề cụ thể trên nhiều lĩnh vực đối nội và đối ngoại. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ đó đánh giá thành tựu to lớn có ý nghĩa hàng đầu là đã khắc phục được một bước rất quan trọng tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội…khắc phục được nhiều mặt đình đốn, suy thái, tốc độ tăng trưởng khá và liên tục trong 3 năm qua. Lạm phát được đẩy lùi từ 67% năm 1991 xuống còn 17,5% năm 1992 và còn 5,2% năm 1993. Tổng sản phẩm trong nước GDP tăng bình quân 8,2% (mức đề ra cho năm 1991- 1995 là 5,5- 6,5%). Sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, sản lượng lương thực 5 năm qua tăng 26% so với 5 năm trước đó, tạo điều kiện cơ bản để ổn định đời sống nhân dân, phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, vấn đề lương thực được giản quyết tốt. Sản xuất công nghiệp đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 13,3 % (mức kế hoạch là 7,5% – 8,5%).

Như vậy, ở đây lại càng thấy rõ tác động của kinh tế đối với chính trị và xã hội, đối với công tác đối ngoại, công tác quốc phòng và an ninh… Đổi mới kinh tế quyết định nhưng các nhân tố chính trị, xã hội, đối ngoại cũng ảnh hưởng tích cực trở lại một cách biện chứng đối với kinh tế. Vân dụng đúng đắn các qui luật của phép biện chứng duy vật. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì cũng vạch ra những mặt yếu kém về kinh tế, nền kinh tế vẫn còn mang tích chất kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé, kết cấu hạ tầng kém phát triển, kinh tế tuy tăng trưởng khá nhưng năng suất, chất lượng, hiệu quả còn thấp…và những vấn đề tồn tại lớn về mặt văn hoá, xã hội…

KẾT LUẬN

Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự nghiệp rất khó và phức tạp, có thể coi nó như một công cuộc kháng chiến trường kỳ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, những biến động nhiều của đất nước ta trong quá trình đổi mới toàn diện xã hội càng đòi hỏi Đảng và nhà nước ta phải kiên trì, kiên định, giữ vững lòng tin, quyết tâm khắc phục khó khăn đồng thời phải tỉnh táo, thông minh nhạy bén để thích ứng kịp thời với tình hình thực tế biến đổi từng ngày, từng giờ.

Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng thành thạo phép duy vật duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu và quản lý kinh tế, phát huy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới nhằm tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, nhất định chúng ta sẽ trở thành những cán bộ quản lý kinh tế giỏi góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới kinh tế đất nước, tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam cất cánh, để từ đó nâng cao hơn nữa vị trí Việt Nam trên chiến trường quốc tế, góp phần củng cố hơn nữa sự ổn định về chính trị của đất nước. Đó là đường lối là trách nhiệm của những nhà quản lí kinh tế, chính trị của chúng ta. Nâng cao hơn nữa vị trí Việt Nam trên chiến trường quốc tế, góp phần củng cố hơn nữa sự ổn định về chính trị của đất nước. Đó là đường lối là trách nhiệm của những nhà quản lí kinh tế, chính trị của chúng ta.
VT.

Đăng nhận xét

0 Nhận xét

Đăng nhận xét (0)
3/related/default